NGƯỜI CON GÁI XÓM GIẾNG (P2)

Tác phẩm tiểu thuyết kinh dị của Quang Nguyễn

11/8/202423 min read

P2 - NGƯỜI CON GÁI XÓM GIẾNG

Kể từ dạo ấy Giang ở nhà với bà Tư Cẩm. Mọi chuyện sinh hoạt diễn ra cũng rất đỗi bình thường chẳng có gì thay đổi. Nếu có là ở nơi người con gái xóm giếng. Bà Tư để ý sau những lần biến cố vùi dập thì Giang biểu hiện như thế nào, có buồn tủi hay đau khổ gì không? Tuyệt nhiên không! Cô rất vô tư như chưa từng có gì xảy ra đối với mình. Mặc dù bà cố tình khơi lại, nhưng Giang vẫn điềm nhiên. Cô cũng không nói nhiều như trước, thường trầm ngâm rất lâu, nhìn chăm chăm một phía, không cử động hay là cái chớp mắt dù chỉ là rất khẽ. Khi ra đường cô cũng không nói chuyện với ai, người ta hỏi thì Giang chỉ cười nhẹ rồi vội vàng đi ngay! Đó là sự thay đổi rõ rệt nhất. Dù là vậy, người ta vẫn không bắt bẻ, có thể họ hiểu Giang đã trải qua biến cố chấn động, đang buồn nên không muốn tiếp chuyện, đa số là người lớn tuổi có nhận định như vậy. Nhưng cũng có nhiều đứa con gái ghét Giang! Vì thanh niên đàn ông trong xóm cứ mãi nhắc về cô. Cứ như Giang vừa góa phụ thì họ lại có lại có thêm cơ hội để bước vào làm chồng. Mặc dù bà Tư Cẩm đã nhất quyết không gả con cho bất cứ ai nữa. Thế mà họ vẫn không bỏ ý định, có khi đi ngang qua xóm Giếng rồi cho bà Tư vài con cá bắt được ngoài đồng, khi thì bó rau muống, trái mướp, quả bầu, từng cây mía, trái bắp, mớ đậu phộng, rổ khoai lang, vài cái củ sắn, tất cả chúng được trồng ngoài rẫy, mặc dù nhà bà Tư không hề thiếu những thứ đó. Họ biết, nhưng cứ lấy lòng, biết đâu Giang sẽ thương rồi đồng ý làm vợ. Đó cũng là lý do khiến nhiều đứa con gái đố kỵ rồi đâm ra ghét. Khi chồng Giang mất họ hả hê, tha hồ mỉa mai, vô tư bình phẩm. Cứ liếc mắt ngang dọc rồi nói với nhau rằng:

- Ôi nhỏ đó có cái số sát phu, nhìn là biết ngay. Ông bà mình nói có sai bao giờ, cái gương trước mắt, rõ rành rành ra đó. Mấy ông dẹp đi, lấy vợ ai lại lấy người 2,3 đời chồng. Bộ con gái xóm Lá chết hết rồi hay sao?

Rồi còn thêm cái kiểu:

- Bông hoa đẹp thì thường là loài có độc đầy gai nhọn, rinh về có ngày nó đâm thủng tay cho coi.

Những câu như thế nói ra trước mặt bọn đàn ông cho bỏ tức, đồng thời ẩn chứa hàm ý khuyên họ cần tránh xa. Nhưng bọn này không sợ, vẫn cứ cười hô hô.

- Thôi mấy cô ơi! Ganh tị vậy là đức tính rất xấu. Mấy người chồng trước chết là do cái số của họ. Con người thì mỗi người mỗi số khác biệt nhau kia mà. - Nói xong đám đông ré lên cười đồng thời gật đầu như tán thành với câu nói chí lý.

Các cô đành phải bỏ đi trong hậm hực vì đã hết cách cảm hóa những kẻ có thói mê gái đẹp bướm ong. Thôi thì chẳng thèm nói tới nữa. Nghĩ đi nghĩ lại cũng phục nể đám đàn ông, rõ ràng Giang có số sát phu, đó là sự thật, đâu phải tại ghét mới đồn đại lung tung để gây ra tiếng xấu, nhưng sao họ vẫn sáp vào như không nghe không thấy. Nơi này từ nhỏ tới lớn ai ai cũng đều biết. Chung một xóm nhưng chia ba tên gọi để dễ phân biệt các địa điểm khác nhau. Đầu tiên phải nói đến là xóm Lá! Không phải cây cối um tùm nên mới có tên gọi. Chẳng qua nơi này chỉ toàn mái nhà tranh vách lá, dù biết vẫn có con số ít là nhà tường, nhà gỗ. Có lẽ nhà lá chiếm đại đa số, lại có trước đầu tiên nên mới có tên cho tới tận bây giờ. Xóm Trâu nằm ở ngoài, hàng ngày con đường đất cát in nát dấu chân trâu đi, có đoạn trũng thấp thành vũng, bùn đen thủi đen thui vì vô số trâu nằm. Xóm Giếng nằm ở cuối cùng gần con sông, có một cái giếng duy nhất nằm trong vườn nhà bà Tư. Trước đó người ta hay lui tới múc nước bằng cái gàu rồi gánh về nhà xài. Từ lúc giếng nhà bà Tư bị nhiễm phèn nặng, nước không còn trong như trước, người ta đào thêm nhiều cái giếng quanh xóm để thuận tiện cho việc lấy nước dùng! Giếng nhà bà Tư bỏ hoang kể từ ấy.

Hôm nay chẳng biết nguyên nhân gì mà người ta đồn nhà bà Tư có ma. Đầu tiên phải nói tới anh Chín Tàng. Ba giờ sáng dậy thật sớm vác theo cái đầu máy ghe, tay cầm cây dầm mang xuống xuồng để đem lên huyện sửa. Lúc đi ngang qua nhà bà Tư, nhìn vô hàng rào nơi cái giếng hoang. Thấy có một người đàn ông cao to, hình như gã để râu quai nón, đứng uy nghiêm bên thành giếng mặt hướng vô nhà của Giang. Người này đứng như bức tượng không động đậy, bộ đồ mặc trên người không giống bất cứ ai trong xóm. Dường như nó là quân phục, không thể bộ đội Bắc Việt, cũng chẳng phải của lính Miền Nam Cộng Hòa. Anh chắc chắn như đinh đóng cột! Bởi vì lính Cộng Hòa đã quá quen thuộc với người dân nơi đây, thậm chí đã thấy từ thuở nhỏ, cũng tiếp xúc và có lúc chơi đùa. Những khi họ hành quân ngang qua, bọn con nít xúm xít chạy theo, luôn được các quân nhân cho kẹo. Riêng về lính Bắc Việt thì anh chỉ mới biết sau này! Cam đoan bộ quân phục của họ không phải như người đàn ông bên thành giếng. Người này mặc đồ màu kem, trên đầu đội cái nón y hệt một miếng vải xếp lại giống hình chiếc xuồng ba lá. Anh bước đi tới khoảng chục bước rồi ngẫm nghĩ trong đầu:

- Ủa! Thật lạ. Nhà cô Tư Cẩm thì làm gì có người đàn ông nào. Bác Năm Lợi đã mất, 3 người chồng của Giang cũng mất. Thế thì kẻ đó là ai? À! Có thể là mấy thằng con trai mới lớn trong xóm rình rập nhỏ Giang với ý đồ đen tối. Vì thế lợi dụng lúc 3 giờ sáng chưa có ai thức, đợi đến tờ mờ cô Tư đi ra rẫy cắt rau mang lên chợ thì nó lẻn vào nhà, để cưỡng hiếp nhỏ Giang. Thằng này gan trời rồi đây.

Nhưng đi được vài bước thì anh khựng lại vì xuất hiện thêm dòng suy nghĩ mới.

- Mà cũng không đúng. Xóm này làm gì có người đàn ông nào mà to cao vạm vỡ, ăn mặc lạ lùng như thế. Vậy thì chắc chắn là ăn trộm, vì biết nhà của Giang không có đàn ông chỉ có 2 người phụ nữ. Huống gì nghe đâu trước đó cô Tư có rất nhiều vàng dành dụm để vượt biên, nhưng lại không đi. Chắc chắn kẻ này đến để trộm.

Nghĩ vậy anh Chín Tàng bỏ cái đầu máy xuống, tay cầm cây dầm thật chắc trong tư thế sẵn sàng. Anh rón rén đi tới núp vào bụi chuối, tay kéo tàu lá để quan sát rõ ràng. Bỗng nhiên người đàn ông cao to quay mặt lại nhìn như đã biết trước anh Chín đang theo dõi. Anh đứng chết trân miệng ú ớ, trước mắt là một bóng ma với gương mặt xanh lè đầy dữ tợn. Nó đúng là ma, một oan hồn Tây vất va vất vưởng ngoài sau nhà cô Tư. Anh vứt cây dầm chạy thật nhanh vấp té đến mấy lần, miệng hét lớn “ma…ma…ma…”. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời anh nhìn thấy, nào giờ chỉ nghe người lớn kể về những chuyện ly kỳ ở cây Duối xóm Trâu. Nơi ấy có một cái nhà cổ bỏ hoang, cây cối mọc um tùm, bên hông có một Duối rất to. Chẳng ai biết chủ nhân của cái nhà này, và có từ bao giờ, nhưng chắc chắn gia chủ phải là người giàu có. Người lớn kể lại rằng, nơi ấy có con quỷ mặc đồ đỏ, tóc xõa che mặt, ngồi bó gối dưới gốc Duối, đã có rất nhiều người trong xóm nhìn thấy khi ngang qua. Những đứa con nít trần truồng đi vòng quanh dưới cây Duối, ban đêm tĩnh lặng nghe tiếng ngựa hí vang, rồi tiếng lọc cọc như chân ngựa chạy, xuất phát từ căn nhà ấy, chạy quanh khắp xóm làng. Người nghe sợ hãi đắp mền kín mít, nhưng cũng người gan dạ muốn biết thực hư ra sao, vị quan nào vừa cưỡi ngựa du hành. Tuyệt nhiên khi mở cửa ra họ chẳng thấy gì. Sáng sớm người ta kéo nhau ra đường nhằm kiểm chứng những gì đêm qua đã nghe, nhưng dưới đường hoàn toàn chẳng có dấu chân ngựa nào vừa in dấu. Chưa hết! Sau này người ta còn thấy một bà già quần áo rách rưới, dẫn theo một đứa bé gái bị mù đi xin ăn. Đêm khuya gõ cửa từng nhà, kèm với câu nói như âm vang từ địa ngục.

- Làm ơn cho xin củ khoai, chén cơm.

Chỉ một lời duy nhất, có nhà cầm ngọn đèn dầu mở cửa đi ra nhưng hoàn toàn chẳng thấy ai. Không phải một mà nhiều nhà cùng chung cảnh ngộ bị gõ cửa. Khi gia chủ bước ra nhìn trước ngó sau cố kiếm tìm cũng chẳng thấy người nào. Đã không thấy ai, thì người lớn làm sao có thể khẳng định đó là bà già ăn mày dẫn theo một bé gái ăn mặc rách rưới mặt mày nhem nhuốc và đôi mắt mù lòa. Chuyện thế này: đám con nít đang chơi trốn tìm quanh bờ tre đầu xóm, khi nhìn ra đường cái thì thấy một bà già dẫn theo một đứa bé gái khoảng độ tuổi chúng nó từ phía trên đi xuống. Đám trẻ chạy tới trêu ghẹo! Có đứa giả mù mắt nhắm lại, duỗi thẳng 2 tay ra phía trước để dò đường đi. Có đứa đóng giả bà già, chân đi lụ khụ, dẫn theo đứa giả mù kia. Chúng cười hí hửng đi theo bà già đến từng ngõ xóm để xin ăn. Bà già cùng lũ trẻ đến những căn nhà mà những đêm trước đã gõ cửa. Khi gia chủ đi ra thì câu nói rùng rợn của đêm hôm nào, nay lặp lại giữa ban ngày ban mặt.

- Làm ơn cho xin củ khoai chén cơm.

Gia chủ nhận ra ngay, người này những đêm trước đã gõ cửa nhà mình. Giọng nói này không thể lẫn đi đâu được. Ông đi vô lấy 2 củ khoai mì vừa nấu chín lúc nãy trao cho bà già. Vừa đưa gia chủ vừa nói.

- Sao đêm hôm khuya khoắt mà bà lại đi xin? Bộ ban ngày không đủ đồ ăn để trữ tới khuya hay sao?

Bà vẫn đang cúi đầu, chiếc nón lá rách nát che khuất mặt, nhưng khi bà ngước lên đưa tay đón nhận, thì ông một phen tá hỏa vì chợt nhận ra! Bà già ăn xin và đứa bé mù này đã chết cách đây hơn nửa tháng ngay tại cây Duối bên hông cái nhà hoang. Không thể nào nhầm lẫn được, vì chính ông và một số người đã đến khâm liệm và tiến hành chôn xác ở phía sau căn nhà. Hai người đã chết nhưng tại sao có thể xuất hiện giữa ban ngày như người sống bình thường?. Sợ người giống người rồi nhìn nhầm lẫn, ông đuổi đám trẻ xung quanh về nhà không cho ai đi theo bà già, chỉ để lại thằng Tý rồi kéo tay nó lại nói nhỏ.

- Bây chạy lên kêu: Bác Ba Hưởng, bác Tư Măng, chú Sáu Vạn, thằng tư Mùa, bác Tám Tỵ, xuống nhà chú Bảy Hoàng, gấp! Ngay bây giờ. Ai có nhà thì kêu người đó, ai không có thì thôi. Xong rồi bây về nhà không được đi ra ngoài. Trên đường gặp bất cứ đứa nào trong xóm thì dặn tụi nó mau trở vô nhà.

Thằng Tý không hiểu gì, nhưng người lớn đã sai biểu thì nó phải làm theo ngay. Nó nói trước khi chạy đi.

- Dạ! Chú Bảy Hoàng. Con đi liền đây.

Ông Bảy Hoàng ở lại nói chuyện vòng vo để giữ chân vì sợ bà già sẽ đi mất. Một lát sau những người nêu tên đã có mặt tại nhà ông. Họ cũng giật mình, vì nhận ra bà già và đứa bé mù đã chết, chính tay họ đã giúp khâm liệm chôn cất. Một người nhìn nhầm thì chẳng nói làm gì, đằng này tới 6 người thì nhầm lẫn ở chỗ nào. Mà muốn nhầm cũng không được! Chính tay họ vuốt mặt cho 2 người, rồi hơ lửa kéo tay chân ra khi đang bị co quắp. Họ lấy chiếu quấn hai người lại, đào 2 huyệt mộ sau căn nhà hoang để chôn. Người ta chẳng biết bà từ đâu tới, quê quán lẫn tên tuổi để còn lập mộ. Họ lập đại, gồm 2 mộ “bà ăn xin” và “đứa trẻ mù”. Điều kỳ lạ hơn là trong 6 người ấy, đều bị bà tới nhà gõ cửa để xin ăn còn nhà khác thì hầu như không có. Ôi trời ơi, từ đời cha sinh mẹ đẻ bây giờ mới thấy “người đã chết rồi, nay hiện ra giữa ban ngày”.

Họ cố giữ lại để chứng minh chuyện kỳ dị, nhưng sao không một ai cản kịp, cũng chẳng thể nắm được vào người bà. Cứ như làn khói, bà dắt đứa bé mù đi về phía cánh đồng, họ đuổi theo không kịp dù bà đi rất chậm chạp! Ra tới bờ đê cả hai người biến mất. Chỉ còn 6 người đàn ông nhìn nhau, khó hiểu lắm, mà chẳng có lời nào để lý giải.

Lúc ấy những thằng nhỏ chăn trâu cả gan dám vào đó để hái Duối, nghe đâu trái Duối chín vàng rất ngọt, muốn ăn để biết vị, mặc kệ người lớn trong xóm hay kể nơi đó có con quỷ áo đỏ. Nhưng lũ trẻ mục đồng chẳng hiểu quỷ ma là thứ gì, miễn có ăn thì ở đâu chúng cũng đến. Vừa tới gốc Duối đứng chết trân khi thấy bà già ăn xin và đứa bé gái mù đã chết cạnh cái nón lá và chiếc giỏ rách tươm. Chúng chạy về xóm báo tin cho người lớn biết. Nhận được tin từ lũ trẻ chăn trâu ông Bảy Hoàng kêu thêm 5 người đàn ông trong xóm cùng tới nhà hoang để xem xét tình hình. Đúng như lũ trẻ báo, khi họ tới đã thấy hai thi thể nằm co quắp cứng đơ. Kỳ lạ hơn là cả 2 đều bị trào máu họng trước khi chết. Nhìn những gì đang diễn ra trước mắt họ kết luận rằng: cả hai bà cháu đi xin ăn rồi vào gốc Duối để nghỉ chân, con quỷ áo đỏ đã bóp cổ cho tới chết vì nơi đây là bất khả xâm phạm không ai được phép vào. Sau cái chết của hai bà cháu, chẳng ai dám bén mảng lui tới nơi nhà cổ hoang có cây Duối to đùng. Họ tin nơi ấy thực sự có con quỷ đang tồn tại.

Chuyện đã xảy ra mấy chục năm, ông Bảy Hoàng bây giờ đã 89 tuổi. Khi đám trẻ hỏi về nguồn gốc của con quỷ áo đỏ từ đâu ra. Ông không ngần ngại mà chia sẻ theo quan điểm của mình. Có thể đó là nhà của một tay phú hộ giàu có từ thời xưa, rồi bỏ tiền ra mua một cô gái đồng trinh đem về chôn sống cùng số tài sản, để làm người giữ của. Oan hồn cô gái sẽ trấn giữ, ai vào đây sẽ bị bóp cổ đến ói máu mà chết như số phận bà cháu người xin ăn.

Câu chuyện nghe người lớn kể lại cho lớp trẻ nhiều lần, thời đó anh Chín Tàng vẫn chưa sinh ra. Bây giờ căn nhà cổ hoang và cây Duối vẫn còn ở đó, nhưng sao chẳng nghe ai nói đã nhìn thấy con quỷ áo đỏ, trong đó có cả anh. Những lần nghe người lớn kể, nhất là chi tiết tiếng ngựa hí trong đêm. Anh buột miệng cười vì cho rằng:

- Xóm Trâu mà lại có ngựa hí. Vậy thì nó là xóm ngựa chứ đâu phải xóm Trâu. Cả một xóm này làm gì có con ngựa nào?

Anh Chín Tàng chỉ nghe cho vui chứ hoàn toàn không tin. Nhưng nay đối diện với một oan hồn ma Tây nó khiến anh sốt mê mang đến mấy ngày liên tục thậm chí ám ảnh cả trong mơ. Từ đó anh kể lại lần gặp ma tại nhà bà Tư có mọi người nghe. Có người tin, có người không! Người ta không tin bởi vì phía sau nhà Giang thì đâu còn lạ với cư dân nơi đây, cả cái xóm này ai mà chưa từng tới đó lấy nước về xài. Chỉ là những năm gần đây nước bị nhiễm phèn, nên người ta mới tìm nguồn nước khác. Thế thì ma ở đâu ra? Buổi tối người ta cũng đi ngang xóm Giếng để ra bờ sông tại sao họ lại không thấy. Ma Tây thì lại càng vô lý hơn, từ trước tới giờ có ai là người Tây sống ở đây đâu! Nếu có thì tại sao vô số người lớn tuổi đều không biết. Nhưng cũng có người tin, vì mỗi lần đi ngang qua nhà Giang đều nổi gai ốc khắp người, cảm giác lạnh chạy dọc sống lưng, cứ như nhà cô có rất nhiều oan hồn hiện diện. Phải nói tới cái chết tức tưởi của ba người chồng Giang. Chẳng biết có thật hay không, một người đi cắm câu đêm kể rằng:

- Thấy Ba Quý từ dưới sông bước lên bờ, mặc chiếc áo trắng y hệt ngày vớt xác. Gương mặt của Ba Quý tím ngắt. Đi tới xóm Giếng rồi rẽ vào đứng trước nhà Giang.

Anh nọ trên tay vẫn còn cầm vài cây cần câu, rón rén theo sau để quan sát. Con chó sủa inh ỏi, 2 chân trước cào xuống đất liên tục. Oan hồn của Ba Quý đứng trước sân, mặt hướng vào nhà, nhưng không đi vô, trên người anh ướt sũng, chỉ chốc lát anh biến mất hoàn toàn. Người ta cho rằng anh nọ nói láo, nếu gặp ma thật đã đái trong quần đồng thời bỏ chạy, như vậy thì còn đâu mà theo với dõi vì anh vốn nổi tiếng là nhát gan hơn cả thỏ đế. Nhưng có một người nói khiến họ phải im lặng lắng nghe, thấy tin hơn là ngờ. Đó là con Phụng em của anh Bảy Việt! Nghe tin chị dâu từ huyện trở về, dầm mưa cả đêm rồi bị bệnh. Tới tối Phụng mới sực nhớ, vội vã ra sau sàn nước nhổ mớ rau đắng, rồi mang theo con cá lóc qua nhà để nấu cháo cho Giang. Khi em chồng bước vô thấy chị dâu ngồi vá áo hát nghêu ngao, bà Tư tém tóc cho Giang đang cười cười nói nói gì đó. Phụng ngạc nhiên vì trông chị dâu không có bất cứ dấu hiệu nào của bệnh tật. Đã lỡ mang qua chẳng lẽ đem về, thôi thì cứ vào, dù bệnh hay không vẫn nấu cháo cho Giang. Mới bước vô cả hai mẹ con quá đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy Phụng. Bà Tư cười chào rồi hỏi.

- Bây đi đâu đây Út Phụng?

- Dạ con nghe chị Giang bệnh rồi mang cá lóc với rau đắng qua nấu cháo để chị ăn mau khỏe.

Giang nhìn Phụng cười giòn tan.

- Chị đâu có bệnh gì đâu. Mà thôi, ngồi chơi đi em.

Bà Tư nhìn cái rổ rau đắng với con cá lóc rồi hỏi lại Phụng.

- Sao bây biết con Giang bị bệnh mà sang thăm?

Chỉ là một câu hỏi quá đơn giản nhưng khiến cô lúng túng. Chẳng biết trả lời sao cho phải. Chẳng lẽ nói sự thật “đêm qua anh Bảy Việt về báo mộng là chị dâu dầm mưa cả đêm rồi mắc bệnh, nên bây giờ cháu mang cá lóc sang nấu cháo”. Nếu nói vậy thì ai tin, chuyện hết sức hoang đường. Phụng tự trách mình ngu ngốc, ăn nói vụng về. Nếu như ban đầu đã nói “thấy chị Giang về nên cháu sang chơi thăm hỏi, sẵn tiện nấu nồi cháo cá lóc để được bồi dưỡng, vì thấy chị đã ốm hơn lúc trước” nói như vậy có phải dễ hơn không. Phụng đắn đo một hồi, rồi Giang bỗng lên tiếng.

- Thôi được rồi. Để đó Má chị xuống nấu rồi chị em mình ăn! Em cứ ngồi chơi. Nói thiệt, hồi chiều chị ăn cơm rồi, hôm qua trời mưa thèm ếch quá. Má mua mấy con về xào măng ăn ngon phải biết.

Bà Tư lấy cái rổ từ Phụng để xuống bếp chuẩn bị nấu. Hai người con gái nhà trên nói chuyện trông vui vẻ quá trời. Đôi khi Phụng lỡ lời nhắc lại chuyện cũ, mà Giang vẫn cứ vô tư. Vậy là chị dâu đã thay đổi, chị mạnh mẽ và nhất quyết sẽ không lấy thêm chồng. Đêm qua Phụng nằm mộng thấy anh Bảy Việt là có thật. Anh đi khập khà khập khiễng, đầu đội nón lá tay dắt theo con trâu, cái mặt trắng bóc tựa như thoa phấn. Trên người toàn là máu, nó rịn lên ướt cả chiếc áo kem. Từ cổng anh lặng lẽ đi vào, buộc trâu vào chiếc cọc cạnh cây rơm trước sân, tất cả mọi hành động y hệt lúc còn sống anh làm. Chỉ khác trước là giờ người dính đầy máu, mặt trắng như vôi, chân đi cà nhắc, và cái dáng nó cũng xiêu vẹo theo. Anh không lột cái nón lá xuống, máu hai bên màng tang đang tuôn ướt cổ áo, anh im lặng đứng ngoài cửa sổ nhìn Phụng khá lâu. Bất ngờ cái vía của Phụng khóc rồi nói trong nước mắt.

- Anh Bảy ơi! Út nhớ anh.

Anh Bảy Việt vẫn im lặng không nói gì. Một hồi lâu anh mới lên tiếng, cái giọng của anh nghe xa xăm, như cõi nào đó ở đâu xa vọng về.

- Ngày mai Út tới nhà chị Giang để thăm hỏi. Chị dâu đang bị bệnh.

Phụng vẫn còn đang khóc.

- Anh Bảy ơi! Người ta đang ở nhà chồng. Chồng họ giàu có chứ đâu nghèo như anh đi cày mướn cuốc thuê rồi dính phải bom mìn.

- Út cứ tới vì anh luôn hiện diện quanh quẩn nhà của Giang.

Nói xong anh quay lưng đi chưa ra tới hàng rào đã biến mất. Phụng cố gọi theo trong nước mắt.

- Anh Bảy… anh Bảy…anh Bảy…

Phụng giật mình tỉnh giấc biết đó chỉ là giấc mơ, có lẽ quá nhớ anh. Trong nhà, anh thương út Phụng nhất, bất cứ cái gì ngon cũng đều cho đứa em. Phụng đưa tay sờ cái gối nằm thấy ướt đẫm. Như vậy là Phụng khóc thật. Bỗng nhiên sáng đó Phụng quên bẵng mất, sao tối nay điều gì khiến làm Phụng nhớ ra và lập tức đi ngay. Khi sang càng bàng hoàng hơn khi thấy chị Giang đang hiện diện trong nhà. Như vậy là anh Bảy Việt đã báo mộng đúng, nhưng sao còn cái chuyện chị dâu bị bệnh thì Phụng nghĩ không ra. Sự thật là Phụng hoàn toàn không biết Giang về, vì chị về không ai thấy, bà Tư cũng sống khép kín không nói với ai. Phụng có nghe đồn là chị dâu bị mẹ chồng xua đuổi, nhưng cô nghĩ đơn giản chỉ là mất mát tổn thương rồi vô cớ trút giận, chứ ai lại đuổi dâu đi khi chồng vừa mới mất. Bây giờ sang nhà Giang cô mới biết tất cả sự thật. Nói chuyện với nhau mới biết hồi sáng Giang có ra bờ tre xắn đụt măng để đem vô xào ếch. Tờ mờ sáng Phụng cũng đi cắt rau muống cạnh bờ tre đến giờ cơm trưa mới về, nhưng kỳ lạ sao vẫn không thấy chị Giang. Nếu thấy thì Phụng đã biết chị đã trở về nhà, chứ nào có phải bây giờ khi sang nhà mới biết mà rồi so với giấc mộng tối qua mình gặp lại người anh.

(Còn tiếp)