NGƯỜI CON GÁI XÓM GIẾNG (P1)

Tác phẩm tiểu thuyết kinh dị của Quang Nguyễn

11/8/202428 min read

Phần 1

(Truyện dài kinh dị của Quang Nguyễn)

Vậy là thêm lần nữa Giang bị miệng đời gọi mỉa mai với hai từ “góa phụ”. Không những vậy, họ còn dùng lời lẽ cay nghiệt để bàn luận ám chỉ về cô. Người ta nói cũng có phần đúng, bởi vì ai lại trong xóm lấy chồng đến lần thứ ba mà người ta chết bất đắc kỳ tử như mấy người chồng của Giang bao giờ. Một hoặc 2 thì chẳng nói đến làm gì, nhưng đằng này cả 3 ông chồng bước qua đời cô thì đều nhắm mắt xuôi tay đi về cõi vĩnh hằng. Người ta nói Giang có cái tướng sát phu, gò má cao, lông mày đứt đoạn nên bất cứ người đàn ông nào vướng vào rồi cũng sẽ ra người thiên cổ. Mặc dù vậy, cái gương ngay trước mắt sờ sờ, thế nhưng các ông vẫn không sợ, cứ muốn dính vào để chinh phục nhằm cưới Giang về làm vợ, bỏ ngoài tai những câu nói của người đời khuyên bảo. Cũng không phải các ông chẳng sợ chết, chẳng qua thấy Giang đẹp như tiên, thân hình nở nang đẫy đà, được ví là cô hoa khôi của xóm nên ai cũng mong muốn có trong tay như một báu vật quý giá. Đi đâu cũng đều nghe các ông bàn luận về Giang với những lời ca ngợi, chẳng khác gì như một phe hâm mộ đối với thần tượng quá sáng giá. Cô đã trở thành hình mẫu trong mắt của đàn ông trong xóm. Như hôm qua, thằng Lượm con ông Bảy Thân bơi xuồng qua sông tới nhà chú Hai Mạnh để mượn cây về dựng rạp chuẩn bị đám cưới. Vừa thấy chiếc xuồng cập bờ, thằng Lượm chưa kịp đi lên chú Hai đã gọi hỏi oang oang.

- Thằng Lượm tới lấy cây về che rạp làm đám cưới phải không bây?

Lượm đi vào trước sân “dạ” một tiếng rồi nói.

- Tía con đã có nói chuyện với bác Hai mấy ngày nay về việc mượn cây. Vậy bác Hai cho con mượn, xong đám con trả.

- Tía con mày y chang nhau. Chỉ có mấy cái cây mà cũng khách sáo tới lui. Muốn bao nhiêu cứ lấy về dùng. Xong rồi thì đem trả để khi nhà ai đám họ có mà xài. Mà bây đi một mình ai tiếp vác cây lên xuồng? - Bác Hai Hạnh hỏi rồi lấy đôi bàn tay se se điếu thuốc rê, đưa lên môi và châm lửa, nhả khói ra nghi ngút.

- Một mình con được rồi bác Hai.

- Cha cha. Sắp lấy vợ rồi bắt đầu giỏi giang ra. Tao cho mượn cây để dựng rạp làm cưới, mà về sau lười biếng bê tha, sinh tật, sống với vợ con không ra gì thì tới số với tao nghen bây. - Bác Hai nói pha trò rồi cười trong làn khói thuốc trắng.

- Dạ con biết rồi bác Hai. Nào giờ con đâu có lêu lổng bê tha. Vả lại cưới vợ rồi thì phải làm ăn với người đời chứ.

- Tốt đó con. Biết nghĩ vậy mới phải. Mà tao nghe nói vợ mày là con ông Bảy Cò ở xóm Tre phải không?

- Dạ phải rồi đó Bác Hai. Vợ con là Út Nhái.

- Ừ! Tao thấy Út Nhái cũng hiền lành, tuy không đẹp như con Giang bà Tư Cẩm. Nhưng cũng siêng năng chịu cực chịu khó.

- Chị Giang thì nói gì nữa nhất ở đây rồi.

- Thôi bây xuống lấy cây rồi về chuẩn bị. Lựa cây tre nào còn tươi, to xíu để khi chôn cho cứng cáp. Để tao gọi thằng Hai Khỏe ra phụ bây mang cây xuống xuồng! Coi vậy chứ tới xế cũng chưa xong.

Bác Hai Mạnh đi ra sau nhà gọi con. Thằng Khỏe từ bờ ao chạy vô trên tay còn chiếc cần câu, vừa dính con cá rô còn chưa kịp gỡ.

- Gì vậy Tía?. - Thằng Khỏe hỏi bác Hai.

- Bây đi vô tiếp với anh Lượm rinh cây xuống xuồng.

Thằng Khỏe cầm cây cần câu một mạch chạy vô nhà. Thấy Lượm đang ngồi trước sân ở cạnh cái lu nước. Nó nói thay thế cho lời chào.

- Sắp được làm chú rể thấy yêu đời ghê ta, cười nói tối ngày.

- Mày cũng lo kiếm vợ đi là vừa. Còn nhỏ gì đâu ra dáng thanh niên rồi. Bộ không có mối nào sao? Hay tại kén cá chọn canh đó?

Thằng Khỏe mắc cỡ đưa tay che miệng cười sau câu hỏi của Lượm. Bác Hai ngồi trên nhà cũng tham gia vào cuộc nói chuyện.

- Nó chê con gái xóm này. Ước gì con bà Tư Cẩm nhỏ lại vài tuổi nó sẽ đi cưới. - Bác Hai Mạnh nói.

- Vậy thì cả xóm này đàn ông con trai đều đi hỏi cưới lúc đó chị Giang biết chọn ai. - Nói xong Lượm cặp kè thằng Khỏe ra bên hông để chuẩn bị bắt đầu vào công việc. Bác Hai ngồi trên uống trà hút thuốc nhìn theo để chỉ đạo cho 2 thằng làm.

Hầu như bất cứ cái gì liên quan đến phụ nữ các ông đều lấy cái mẫu Giang ra để so sánh nhắc vào. Mặc dù trong xóm Lá không phải chỉ duy nhất Giang mới là con gái. Đó là lý do khiến những người phụ nữ khác không có thiện cảm với Giang! Họ ghét cô kể từ đó. Không đố kỵ sao được khi cô vượt trội hơn họ về nhan sắc, lại cứ tối ngày nghe đàn ông cứ khen ngợi về Giang mà họ chẳng hề muốn nghe. Cứ như Giang là một con hồ ly tinh đã mê hoặc làm vô số đàn ông phải đắm đuối ngất ngây! Dù biết Giang không có tính lẳng lơ, ẻo lả, cố tình gây thu hút. Chẳng hiểu vì sao cô cũng là con gái quê, cũng chân lấm tay bùn, nắng nôi khổ cực dưới cánh đồng, vẫn lao động như bao nhiêu người khác. Không biết lý do gì da trắng như bông bưởi, tóc đen láy, đôi má có chút hồng nhẹ, giống những cô gái thành phố theo lối sống tân thời biết chăm chút, chưng diện làm đẹp cho bản thân. Nhưng Giang hoàn toàn không biết làm đẹp, đó là nét đẹp rất tự nhiên, ăn mặc cũng vụng về rất quê. Nhiều người nói cô đẹp là do lai tây, bởi vì trước đó thời còn con gái bà Tư Cẩm có làm việc tại Sài Gòn, tiếp xúc với nhiều sĩ quan quân đội Mỹ cấp cao. Rất có thể bà có quan hệ tình cảm trong số đó dẫn đến mang thai rồi sinh ra Giang. Đến khi quân đội Mỹ rút đi thì bà về quê lấy chồng khác. Cũng đồng nghĩa với việc cha của Giang không phải là ông Năm Lợi. Đó là sự đoán mò của những người trẻ tuổi luôn bị người lớn phản bác vì không đúng sự thật. Người lớn cho rằng “không biết thì đừng ăn nói bậy bạ, đến tai bà Tư sẽ mích lòng lối xóm”. Sự thật bà Tư Cẩm có làm việc ở Sài Gòn, nhưng không hề có chuyện cặp bồ với Tây hay Tàu. Bằng chứng là sau khi đất nước thống nhất năm 1975, bà được đưa đi học tập cải tạo trong một thời gian, rồi trở về quê hương sống như bây giờ. Lúc ấy Giang còn chưa ra đời, đến khi ông Năm Lợi cưới về làm vợ thì sau này mới đẻ ra Giang. Như vậy thì cô không thể lai tây, từ đó người ta cũng không nhắc tới chi tiết ấy nữa.

Nhà Giang ở cuối xóm gần với cái giếng thôn. Cô là đứa con gái duy nhất của ông Năm Lợi và bà Tư Cẩm. Vì là con một nên Giang thôi học sớm để phụ giúp việc nhà. Cô cũng vất vả từ nhỏ tới lớn. Năm 17 tuổi Giang bắt đầu lấy chồng, người chồng đầu tiên của cô là anh Ba Quý người ở cùng xóm. Cưới xong chiều đó anh mang cây và bàn ghế đi trả, trong người còn nồng nặc mùi rượu. Khi chiếc ghe đã ra sông cái, bão ập tới, ghe lật úp, bàn, ghế, cây đổ xuống trôi vương vãi trên sông, người dân đến giúp đỡ vớt lên thì phát hiện anh đã Ba Quý đã chết. Thế là sáng cưới - chiều chết, những cây, bàn, ghế ấy tiếp tục đưa về để làm thêm một đám! Đó là đám tang. Như vậy Giang chưa một hạnh phúc đã trở thành góa phụ ở độ tuổi 17. Sau vài năm gia đình anh Ba Quý thấy quá thương Giang, vì tuổi còn quá trẻ mà phải chịu cảnh này. Họ mong muốn cô đi xây dựng hạnh phúc, sau nhiều lần bị thúc giục Giang cũng đi thêm bước nữa. Anh Bảy Việt đã thương thầm Giang từ đâu, biết được tin này anh qua nhà hỏi cưới được cô đồng ý. Đám cưới của họ diễn ra khá đơn sơ vì anh Bảy thuộc con nhà nghèo, cô cũng không đòi hỏi gì thêm vì đã mang tiếng một đời chồng. Giang đồng ý làm vợ anh Bảy Việt vì cô biết anh rất hiền lành, giỏi giang và chất phác thật thà. Khi về nhà chồng được 8 ngày. Sáng đó anh Bảy dắt trâu ra đồng để cày thuê cho đất gò nhà ông Năm Phụng. Khi con trâu kéo cày qua lại ngang dọc mấy đường, một tiếng nổ tiếng vang lên chát chúa, khói lẫn đất cát bay lên mù mịt. Người ta nghe tiếng nổ lớn xúm nhau kéo ra xem thì một cảnh tượng không thể thương tâm hơn. Trước mắt họ là hố trũng sâu, con trâu bể bụng nằm chết máu còn tuôn ra xối xả. Riêng anh Bảy Việt văng ra cách hiện trường hơn 6 mét, thi thể nát bét không còn nguyên vẹn. Mùi máu tanh tưởi kèm với mùi khói khét lẹt. Trẻ em không dám nhìn vì một cảnh tượng quá thê thảm hãi hùng! Người ta báo cơ quan chức năng để điều nguyên nhân. Họ kết luận anh Bảy Việt cày dính quả bom của thời chiến tranh còn sót lại nên mới bị nổ. Đội rà phá bom mìn bắt tay vào làm nhiệm vụ, họ phát hiện ở phần đất dưới còn đến 8 quả bom chưa nổ. Thông báo cho gia đình biết, đồng thời nhặt lại từng bộ phận trên cơ thể để về làm ma chay. Như vậy, thêm một lần nữa Giang trở thành góa phụ ở độ tuổi hơn 20. Từ ấy cô trở về nhà với bà Tư Cẩm. Ông Năm Lợi cũng vừa mới mất do bệnh tai biến mạch máu não, nhà bây giờ chỉ còn lại 2 mẹ con. Vài năm sau bà con lối xóm cứ gợi ý cho Giang lấy chồng, không những thế họ còn làm mai mối cho con cháu họ hàng. Bây giờ không muốn lấy thêm ai vì đã 2 lần mình đã không có được nghĩa phu thê trọn vẹn. Được tin chồng thứ 2 của cô chết bọn đàn ông trong xóm lại có thêm cơ hội để cưới cô làm vợ. Đã có 7 người tới hỏi cưới cô đều lắc đầu, nhưng riêng người này bà Tư Cẩm hoàn toàn ưng ý. Đó là anh Tư Được, con của người bạn ở trên huyện. Cuối cùng hết cách Giang phải đồng ý và thuận theo để mẹ được vui lòng. Rồi đám cưới cũng tổ chức linh đình, những chiếc ghe rước dâu neo san sát bờ sông. Lần thứ 3 Giang lấy chồng, được hơn 1 tháng cô cảm thấy nhẹ nhàng vì cho rằng bến đỗ của cuộc đời mình là đây, đã qua rồi cái số đen đủi góa phụ. Nhưng không đơn giản như cô nghĩ! Sáng đó Tư Được lái chiếc Honda 67 để đi thu tiền thuê đất, khi băng qua ngã 3 đã đâm vào chiếc xe cải tiến đang chở lúa chạy ngược chiều. Kết quả là một vụ tai nạn xảy ra, nạn nhân chết ngay tại chỗ.

Lúc đưa xác Tư Được về nhà để lo hậu sự. Bà Sáu Ấn điên cuồng hét lên.

- Trời ơi! Nó là con quỷ! Nó giết con tôi.

Rồi bà nhào tới nắm lấy tóc của Giang bấu víu vào mặt, tay còn lại tát liên tục, kèm với những câu chửi rủa đầy cay nghiệt.

- Trả con lại cho tao. Mày là con quỷ cái đội lốt người, đã giết mấy người chưa đủ hay sao mà bây giờ giết luôn cả con tao. Trời ơi là trời! Nhà tôi đã rước yêu ma thứ quỷ về.

Người ta đến can ngăn kéo ra vì biết bà đang bị kích động. Riêng Giang ngồi đó chịu trận khóc sướt mướt. Bà thê thảm nói lên từng giọng đứt quãng.

- Mày thấy chưa Tư? Má đã nói bao nhiêu lần mà mày cứ cãi nhất quyết đòi cưới. Nó là con quỷ, nó có tướng sát phu. Ai dính vô nó cũng ra nghĩa địa mà nằm. Con ơi là con.

Tiếng khóc của bà kéo dài lúc có lúc mất. Người ta biết bà đau khổ vì vừa mất con. Nhưng họ lại không đồng ý khi bà dùng những lời lẽ cay nghiệt để chửi, đổ lỗi cho con dâu. Chính bà kêu Tư Được phải đi thu tiền đất vì đã quá trễ cả tuần, nhưng bây giờ lại đi trách Giang. Chưa hết, cuộc hôn nhân này cũng do chính bà tái hợp. Lúc đó mặc dù biết Giang đã có 2 đời chồng cả hai đều chết bất đắc kỳ tử. Bà thường nói với hàng xóm rằng:

- Ôi! Hơi sức đâu mà nghe miệng đời ác nghiệt. Thấy con nhỏ đẹp, giỏi giang ai cũng quý mến rồi sinh ra đố kỵ. Sát phu, sát thê cái nỗi gì. Toàn là ăn nói bậy bạ, thằng Tư nhà tôi không cưới thì cũng còn vô số thằng xếp hàng. Cái số con người tới lúc chết là chết chứ chẳng tại ai. Con nhỏ đẹp người đẹp nết, tôi nhìn còn muốn cưới chứ đừng nói chi đàn ông.

Vậy mà bây giờ bà cho rằng cái chết của con trai là do chính Giang gây ra. Mọi tội lỗi đều trút lên đầu cô. Bà đuổi ra khỏi nhà nhưng cô vẫn một mực van xin.

- Con xin mẹ đừng đuổi con. Hãy để cho con để tang cho chồng. - Giang quỳ lạy, khóc lóc.

Nhưng bà vẫn gằn giọng dứt khoát.

- Thứ yêu ma không thể ở đây. Tao không có đứa con dâu như mày. Thằng Tư con tao cũng không phải là chồng mày. Ra khỏi đây ngay, không cần loài ma quỷ để tang để tiếc gì hết.

Người ta thấy bức xúc, cảm thương cho Giang nhưng họ không biết làm gì hơn vì đây là chuyện gia đình người ta. Là một người dưng không quen biết, nhưng trong nhà có tang họ đến chia buồn thì gia chủ cũng phải biết ơn mới đúng phép tắc đạo đời, huống gì Giang chính là vợ của Tư Được trên danh nghĩa chính đáng mà ai ai cũng biết. Thế mà bây giờ bà lại ngang ngược cấm không cho vợ để tang chồng! Nghĩa tử là nghĩa tận dù bất cứ chuyện gì cũng bỏ qua huống gì là con cái trong nhà. Một người bà tuổi trung niên thấy quá bức xúc cũng lên tiếng, nhằm ủng hộ cho Giang.

- Cho nó để tang đi Sáu ơi. Một ngày ăn ở thì cũng là vợ chồng. Nó để tang chồng nó chứ có để tang chồng người khác đâu.

Rồi nhiều người cũng lên tiếng bênh vực cho Giang. Tiếng nói trong số đám đông xen kẽ nhau.

- Phải rồi… phải rồi… nhà có tang thì đừng làm thêm lớn chuyện. Hãy để người quá cố được yên nghỉ.

Rồi bà cố chấp nạt ngang. Tiếng giận dữ lấn át mọi người.

- Nhưng nó là con quỷ chứ không phải con người. Ra khỏi đây nhanh lên.

Biết mình ở đây sẽ càng lớn chuyện, tang gia thêm rối ren. Giang khóc lóc, chạy ra phía con sông rồi mất hút bên hàng cây bạch đàn. Người ta nhìn theo chép miệng thở dài, thương cho cái số phận của Giang. Bà Tư Cẩm ở nhà một mình đang vo gạo chuẩn bị nấu cơm, vừa thổi lửa thì có người chạy tới báo tin. Con chó cứ sủa oang oang trước cổng khi thấy có người lạ xuất hiện. Ông nọ đứng bên hàng rào, rồi đi tới bụi tre, nhìn trước ngó sau vẫn không thấy bà Tư đâu, ông gọi to cũng chẳng ai trả lời. Quá nóng lòng ông đi vô sân đứng trước cây rơm gọi om sòm một lát sau mới thấy cái bóng của bà Tư mới đi ra.

- Chuyện gì mà la lối om sòm vậy chú Tám.

Ông chưa trả lời liền, giở nắp lu lấy cái gáo múc nước đưa vào miệng uống ừng ực như chết khát đã từ lâu lắm rồi. Ông kéo vạt áo lau miệng rồi khẩn khoản trả lời.

- Tôi gọi chị nãy giờ không trả lời trả vốn. Con chó hung hãn quá đâu dám vô! Nhưng thôi liều luôn, vì đây là chuyện hệ trọng.

- Mèn đất ơi! Con chó sủa to có nghe được gì đâu. Tưởng mấy người đi đồng ngang rồi nó sủa. Mà chuyện gì. - Bà Tư hỏi.

- Thằng Tư Được con rể của chị nó chết rồi, mới sáng nay.

Bà Tư Cẩm hoảng hốt khi nghe qua.

- Sao lại chết? Nó bị gì?

- Bị đụng xe! Mới hồi sáng đây. Chưa hết nghen! Bà mẹ chồng chửi con Giang, cho rằng con bả chết là do nó. Đuổi đi luôn rồi.

- Sao lại do con Giang! Chú Tám nói đầu đuôi sự việc cho tôi nghe với. - Bà Tư Cẩm đề nghị.

- Thì tôi cũng có biết đâu. Đi lên huyện mua vài chai thuốc sâu để mai phun cho lúa nghe người ta đồn ầm ầm. - Ông Tám nói.

- Nhưng liên quan gì tới con Giang nhà tôi?

- Bà mẹ chồng nói do con chị có tướng sát phu, nên thằng Tư Được mới chết. Bây giờ đuổi con Giang đi luôn không cho để tang chồng, thấy coi được không?

- Tôi phải lên trên đó liền. Dù gì cũng là sui gia, người ta cư xử không được, thì mình cũng làm sao cho đúng là nhân nghĩa đạo đời.

- Chị có xuống đó người ta cũng đuổi về thôi.

- Không xuống làm sao coi cho được. Dù sao cũng là sui gia. Trong chuyện này con Giang có sai hay không thì chẳng biết, nhưng tôi thì chắc chắn không làm gì sai với phía sui gia.

- Thôi tùy chị.

Nói xong người đàn ông quay lưng ra đi. Bà chạy xuống dập tắt bếp lửa, đóng cửa lại, lấy cây dầm chạy ra bờ sông lên xuồng rồi chèo xuống hướng huyện. Đúng như lời ông Tám nói, khi vừa tới nơi chưa kịp thắp hương cho con rể bà Tư đã bị chửi te tua, đồng thời đuổi về không tiếp đón! Bà Tư đành lủi thủi ra về trong một đêm mưa gió. Về tới nơi bà khá thấm mệt, vì chèo xuồng từ huyện về xã trong đêm hôm tối mịt với cơn mưa tầm tã. Vừa mệt vừa tức tối, cuộc đời bà chưa bao giờ bị đối xử như hôm nay. Mất mặt trước bao nhiêu người, bà xem trọng mối quan hệ sui gia bao nhiêu thì người ta lại khinh thường bà bấy nhiêu. Đáng nói hơn khi thời trẻ làm việc tại Sài Gòn bà là cấp trên của Sáu Ấn. Đến khi đất nước thống nhất 2 bà cùng đi học tập cải tạo, cùng trở về địa phương mà sau này nó thuộc vùng kinh tế mới. Lúc ấy cuộc sống rất gian nan, may mắn thay bà có chừa lại ít vàng để dự tính chuẩn bị sang nước thứ ba, suy đi tính lại bà không đi, con số ấy bà đem hết giúp đỡ cho người thuộc cấp dưới, riêng mình trắng tay, cam chịu vất vả để gây dựng như chưa từng có của. Bây giờ người cấp dưới của năm nào đã trở nên khá giả, nhưng chưa một lần giúp đỡ lại. Hôm nay lại dùng những lời lẽ cay nghiệt để chửi bới và đuổi luôn cả hai mẹ con. Ôi đúng là cuộc đời, không thể nào biết trước lòng người sẽ đổi thay ra sao. Bà mở cửa bước vào chợt rùng mình vì lạnh giá tê buốt. Cứ tưởng vô nhà rồi sẽ đỡ lạnh hơn ở ngoài, nào có ngờ nó càng lạnh hơn, có thể bà dầm mưa quá lâu. Vừa đi vô đã nghe tiếng khóc thút thít trong từ buồng phát ra, có thể là Giang đã trở về sau những biến cố ở nhà chồng nên bây giờ sầu tủi cho số phận. Cô khóc! Tiếng khóc lúc có lúc mất hòa lẫn trong tiếng mưa lộp độp trên mái lá. Vì cũng là đàn bà con gái nên bà hiểu tâm trạng của Giang trong lúc này, huống gì đứa con gái duy nhất đã chịu biết bao nhiêu trái ngang đen đủi trong cuộc đời. Thử hỏi! Cái xóm Giếng này có ai khổ bằng Giang. Ba lần hôn nhân thì 3 lần gãy gánh, trong một thời gian quá ngắn ngủi! Người đời thì nói đủ điều bàn tán ra vào, những lời cay độc luôn dành cho riêng cô! Tính ra cái số Giang quá khổ. Bà đi tới bàn thờ vặn to ngọn đèn dầu, thắp nén nhang cho ông Năm Lợi, rồi nói vọng vô trong.

- Con về bao giờ! Có cơm nước gì chưa?

Không thấy Giang trả lời mà chỉ nghe tiếng khóc. Bà sực nhớ ra mình hỏi quá vô lý, vì khi đi chỉ mới nhóm lửa chưa kịp nấu cơm thế thì ở đâu ra mà ăn. Biết mình hỏi hơi hố bà đổi sang đề tài.

- Đồng nghiệp, bạn bè, sui gia gì mà toàn là đuổi với chửi! Mà có ai làm sai gì với họ đâu. Lúc người ta đuổi thì con đã đi đâu? Sao má chèo xuồng tới dưới mà không thấy?

Giang vẫn không trả lời, tiếng khóc mỗi lúc càng lớn hơn. Biết mình vừa lỡ lời khơi thêm nỗi đau của con gái, bà lảng sang chuyện khác.

- Dưới bếp còn rổ khoai lang tím, thôi để xuống nấu rồi má con mình ăn.

Bà cầm ngọn đèn dầu bước vô buồng để thay quần áo sau trận mưa từ huyện về xã ướt như chuột lột. Vừa vén tấm rèm đã thấy Giang nằm trên giường khóc mà mình mẩy ướt nhem, y hệt bà lúc này chắc cũng mới trở về. Chạm vào người con gái có cảm giác lạnh buốt. Bà đi liền xuống bếp nhóm lửa nấu nồi nước ấm để pha cho Giang tắm. Chắc con gái dầm mưa từ huyện trở về nên bây giờ bị cảm lạnh. Bếp lửa cháy lên đã giúp xua đi cái lạnh run lẩy bẩy. Bà lấy cái nón lá đội lên đầu rồi đi ra cái giếng phía cuối hàng rào sau nhà tìm hái một ít lá xông để về nấu cho Giang. Khi trở vô nhà cơn mưa cũng vừa dứt, trong cái nón lá đựng đầy những thứ lá. Lúc đi ra tới cây chanh, bà thận trọng từ từ, đưa tay nhè nhẹ lên hái, vì đây là loài cây có gai mọc khắp cành nó có thể đâm vào tay gây chảy máu nếu vội vã sơ ý. Khi quặng nhánh xuống ngang mặt cho gần với tay! Bà hốt hoảng khi thấy một người đàn ông ăn mặc rách rưới, đầu đội nón lá, gương mặt trắng bóc, hình hài tựa làn sương nhìn thấy không rõ ràng. Đứng đối diện nhìn bà chằm chằm! Bà giật mình buông nhánh chanh ra, nó bật lại như cũ người đàn ông đội nón lá cũng biến mất không còn. Tự đưa tay vào thở phào rồi trấn an lại, chắc là do mưa cái gì nhìn cũng không rõ ràng nên bị hoa mắt. Không nghĩ ngợi nhiều, nhặt lại chiếc nón lá hái lá chanh cho vào, tiếp tục đi tới bụi sả, rồi đến đến bụi gừng, xong xuôi mọi việc mới đi vô trong nhà. Cơn mưa đã dứt tiếng ếch nhái tứ phía vang lên như một điệp khúc quen thuộc sau những trận mưa đêm. Vừa bước vô cửa đã gặp Giang ngồi chải tóc hát nghêu ngao trên cái chõng gỗ nhà trên trông có vẻ rất yêu đời chẳng hề có buồn phiền gì như mới vừa tức thì. Kỳ lạ hơn là người Giang hoàn toàn khô ráo như không hề ướt như lúc nãy. Nếu Giang đã thay quần áo thì chẳng có gì để nói! Đằng này, vẫn là bộ đồ ấy. Chẳng lẽ bà Tư Cẩm bị hoa mắt, hoặc có thể do người mình ướt sũng khi đụng vào người Giang nên có cảm giác cũng ướt giống hệt. Bà nhìn Giang rồi cười, tự cho mình bị hoa mắt, có lẽ đã lớn tuổi nên nhìn gà hóa cuốc, như mới đây lúc đi ra cây chanh cạnh cái giếng hái lá. Nhưng có một điều khó hiểu, làm sao Giang có thể vui vẻ yêu đời khi mới xảy ra một biến cố mà người mạnh mẽ cũng phải buồn kéo dài, nói gì một đứa giàu cảm xúc yếu mềm như Giang. Bà thừa biết cái tính của con gái vốn dĩ từ trước tới giờ hay yếu lòng. Nhưng thôi, nó tươi tắn, vui vẻ trở lại thì đó là điều đáng mừng. Nghe con gái vừa chải tóc vừa hát bà nhìn xung quanh rồi mắng.

- Con quỷ! Mày cứ nghêu ngao mấy cái bài ấy đi rồi họ tới bắt cả nhà nghen con.

Giang thôi không chải tóc ngước lên nhìn bà đăm đăm rồi hỏi.

- Sao má gọi là con quỷ.

“Con quỷ” 2 từ này vốn dĩ rất bình thường, của những bà mẹ Nam Bộ khi rầy la con gái có tính ngang bướng hư hỏng. Bà cũng thường dùng nó để mắng la mỗi lần Giang làm sai gì quá nặng. Bà biết từ nay về sau sẽ không được dùng từ này để la con nữa! Bởi vì Giang đã bị chính mẹ chồng sỉ nhục cũng bằng hai tiếng này. Bà cười một cái để giảm sự nghiêm trọng.

- Thì má sợ con thản nhiên hát hò không ý tứ, họ nghe được sẽ không để mình yên. Lý lịch nhà mình con biết rồi còn gì.

- Dạ! Con biết rồi. Chỉ hát ở nhà có 2 má con thôi. Ủa má đi đâu ngoài mưa gió mà ướt nhem vậy? Con đi kiếm nãy giờ không thấy.

- Đầu cha mày! Còn hỏi. Tao đi hái lá xông cho mày chứ đi đâu.

- Hái lá xông cho con để làm gì?

- Thì lúc ở huyện về nhà, thấy mày nằm trong buồng khóc, người ướt sũng lại lạnh như nước đá. Tưởng đâu mày dầm mưa bị cảm lạnh nên mới đi hái lá xông.

- Má nói gì vậy? Con có dầm mưa đâu. Với lại ai ướt nhẹp không chịu thay đồ mà leo lên giường nằm hả má. Vậy ướt hết cái giường sao má con mình ngủ.

- Chắc tao già rồi lẩm cẩm. Với lại trong buồng tối thui không nhìn rõ. Chỉ là đụng vô người mày thấy lạnh với ướt nên tưởng đã mắc mưa rồi bị cảm.

- Mắc mưa ướt sũng là má đó. Con có mắc mưa đâu. Lúc má vô buồng đụng vào người con là hoàn toàn khô ráo kia mà. - Giang nói

- Chắc má bị hoa mắt.

Rồi bà định kể cái chuyện lúc nãy ra hái lá chanh khi quặng nhánh xuống thì lộ ra một người đội nón lá cho Giang nghe. Nhưng nghĩ cũng không cần thiết lại sợ con nó cười mình mê tín nên thôi.

- Vậy là con về lúc chưa mưa hả?

- Dạ. Lúc má đã đóng cửa đi chưa về. Thôi vào thay đồ, mấy cái lá này đem vô nấu rồi má xông luôn đi.

Trước khi đi vô buồng bà quay lại nói với Giang.

- Thôi từ nay ở nhà với má không cần lấy chồng nữa. Cái gì đã qua rồi thì cứ quên đi cho nhẹ lòng nghen con.

- Má yên tâm con chỉ buồn rồi khóc 1 lát thôi. Trời mưa này con thèm ếch quá. Mai má mua ếch về xào măng ăn nghen.

- Ừ! Nước ngập tràn mấy đứa thanh niên xóm Lá bắt ếch nhiều lắm. Tụi nó có đi ngang qua đây má sẽ mua. Mai con ra bờ tre xắn vài mụt măng sẵn đi.

Nói xong bà quay lưng đi hiện lên dòng suy nghĩ trong chốc lát. Chẳng biết con gái mình đã thay đổi tính tình từ bao giờ, mới về nhà chồng ở có hơn 1 tháng thế bây giờ nó đã khác trước hoàn toàn. Cũng tốt, điều ấy sẽ giúp nó mạnh mẽ không đau buồn ủ rũ đương đầu với mọi sóng gió trước cuộc đời.

(Còn tiếp)